Cầm cố xe máy vay 100 triệu đồng: Lý do ngân hàng đòi nợ bất thành

Khách hàng khẳng định đã trả hết khoản vay

Theo bản án phúc thẩm của TAND TP Cần Thơ, ngày 2/1/2020, bà Nguyễn Thị T. ký hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố với Ngân hàng K., vay 100 triệu đồng để buôn bán nhỏ lẻ.

Khoản vay gồm 30 triệu đồng tín chấp và 70 triệu đồng có tài sản bảo đảm. Đối với khoản vay có bảo đảm, bà T. cầm cố chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu của mình.

Theo thỏa thuận, khoản vay có thời hạn 120 ngày, lãi suất 16%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Trước đó, ngày 1/8/2019, ông Trần Văn C. ký hợp đồng dịch vụ với ngân hàng để tư vấn sản phẩm, giới thiệu khách hàng có nhu cầu vay vốn. Hai bên còn thỏa thuận ông C. đại diện ngân hàng nhận tiền trả góp trực tiếp từ người vay và nộp lại cho ngân hàng hằng ngày. Ông C. được hưởng hoa hồng bằng 60% tổng số lãi thu được từ khách hàng trong ngày.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T. trả góp mỗi ngày 250.000 đồng tiền gốc và 13.151 đồng tiền lãi. Tính đến ngày 7/3/2020, bà đã thanh toán hơn 56,1 triệu đồng, gồm hơn 53,3 triệu đồng tiền gốc và hơn 2,8 triệu đồng tiền lãi.

Ngân hàng cho biết, bà T. ngừng thanh toán từ ngày 8/3/2020. Tính đến ngày 31/12/2025, số tiền bà còn phải trả là hơn 113,4 triệu đồng, gồm hơn 46,6 triệu đồng tiền gốc, hơn 2,4 triệu đồng tiền lãi trong hạn và hơn 64,3 triệu đồng tiền lãi quá hạn.

W-vay tien.jpg
Ngân hàng đòi hơn 113 triệu đồng bất thành vì không chứng minh được khoản nợ. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T. thanh toán số tiền trên cùng khoản lãi phát sinh kể từ ngày 1/1/2026 cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp bà T. không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng đề nghị được kê biên, phát mãi chiếc xe máy đã cầm cố. Nếu tài sản này không còn hoặc không đủ giá trị thanh toán, ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của ông C. và vợ là bà S. để thu hồi nợ.

Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện, bà T. cho rằng mình đã tất toán toàn bộ khoản vay trong năm 2020 thông qua ông C., cộng tác viên của ngân hàng. Theo bà, ngân hàng đã giải chấp chiếc xe máy, trả lại giấy tờ xe để bà bán cho người khác.

Ông C. và bà S. cũng xác nhận bà T. đã trả nợ đầy đủ, ngân hàng đã trả lại giấy tờ xe sau khi kết thúc hợp đồng. Vì vậy, hai người không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng.

Ngoài ra, ông C. và bà S. yêu cầu áp dụng thời hiệu, hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký ngày 14/9/2020 vì cho rằng đã hết thời hiệu.

Ngân hàng không chứng minh được số nợ còn lại

Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND khu vực 2 – Cần Thơ không chấp nhận yêu cầu của ngân hàng về việc buộc bà T. trả nợ, cũng như yêu cầu xử lý chiếc xe máy và tài sản thế chấp của ông C., bà S.

Không đồng ý, ngân hàng kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, TAND TP Cần Thơ nhận định việc bà T. ký hợp đồng vay và được ngân hàng giải ngân 100 triệu đồng là có căn cứ. Vấn đề cần giải quyết không phải khoản vay có phát sinh hay không, mà là tại thời điểm ngân hàng khởi kiện, bà T. còn nghĩa vụ thanh toán hay không và số tiền nợ thực tế là bao nhiêu.

Theo HĐXX, hợp đồng dịch vụ giữa ngân hàng và ông C. thể hiện ông này có nhiệm vụ tư vấn, thẩm định, giới thiệu khách hàng và thu tiền gốc, lãi của những khách hàng do mình giới thiệu để nộp lại cho ngân hàng. Vì vậy, việc ông C. thu tiền của bà T. là thực hiện công việc theo thỏa thuận với ngân hàng, cần được đối chiếu với chứng từ thu tiền, chứng từ nộp tiền và lịch sử hạch toán khoản vay.

Theo HĐXX, ngân hàng cho rằng ông C. thu tiền của bà T. và nộp lại từ ngày 2/1/2020 đến ngày 7/3/2020. Trong khi đó, lịch sử hoạt động tài khoản vay của bà T. lại thể hiện bà đã trả tiền gốc, lãi đến ngày 7/4/2020.

Mặt khác, khi đối chiếu lịch sử nộp tiền của ông C. tại các tài khoản với tổng số tiền trong các bảng kê thu tiền, số liệu không thống nhất.

Các biên bản làm việc giữa ngân hàng với ông C. về việc chậm nộp tiền cũng không xác định cụ thể khoản tiền chậm nộp là của khách hàng nào, có gồm khoản tiền của bà T. hay không. Tổng số tiền ông C. nộp trong ngày cũng không khớp với tổng số tiền trong từng bảng kê.

HĐXX cho rằng những chứng cứ ngân hàng cung cấp chưa thể hiện đầy đủ, thống nhất và có thể kiểm chứng toàn bộ quá trình bà T. thanh toán tiền cho ông C., ông C. nộp tiền cho ngân hàng và ngân hàng hạch toán các khoản tiền này vào khoản vay của bà T.

Ngân hàng là bên yêu cầu khách hàng thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên phải cung cấp chứng cứ chứng minh số dư nợ thực tế. Trong khi số liệu giữa bảng kê thu tiền, lịch sử nộp tiền của ông C. và lịch sử trả nợ của bà T. không thống nhất, chưa đủ căn cứ xác định bà T. còn nợ số tiền gốc hơn 46,6 triệu đồng và tiền lãi hơn 70,9 triệu đồng như ngân hàng yêu cầu.

Đối với chiếc xe máy cầm cố, ngân hàng xác định chưa giải chấp tài sản nhưng thừa nhận đã làm thất lạc bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe trong quá trình lưu giữ.

HĐXX cho rằng việc ngân hàng làm thất lạc giấy đăng ký xe không phải căn cứ độc lập để kết luận khoản vay đã được tất toán. Tuy nhiên, tình tiết này cần được xem xét cùng lời trình bày của bà T., ông C. và toàn bộ chứng cứ về quá trình thu, nộp, hạch toán tiền vay.

Do ngân hàng chưa chứng minh được số dư nợ thực tế nên cũng không có căn cứ xác định nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản cầm cố còn tồn tại để xử lý chiếc xe máy.

Đồng thời, quyền xử lý tài sản thế chấp của ông C. và bà S. chỉ phát sinh nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ được xác định là còn tồn tại của khoản vay. Khi nghĩa vụ chính chưa được chứng minh, không có căn cứ xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng đã ký.

HĐXX phúc thẩm nhận định, dù một số nhận định của bản án sơ thẩm về việc mất giấy chứng nhận đăng ký xe chưa thật sự chặt chẽ, nhưng kết quả không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng là có căn cứ.

Tại cấp phúc thẩm, ngân hàng cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới có giá trị chứng minh toàn bộ số tiền bà T. đã thanh toán, số tiền ông C. đã thu, đã nộp và số tiền được hạch toán vào khoản vay.

Từ đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng K., giữ nguyên bản án sơ thẩm. 

(Bài viết dựa trên Bản án số 1462/2026/DS-PT ngày 15/10/2026 của TAND TP Cần Thơ).


Nguồn bài viết

Chia sẻ bài báo