
Thủ tướng Lê Minh Hưng gặp Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi – Ảnh: TTXVN
Nhân chuyến công tác Ấn Độ dự Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 của Thủ tướng Lê Minh Hưng, Tuổi Trẻ trao đổi với TS Majo George, Trưởng khoa kinh tế Trường đại học Kinh tế – Tài chính TP.HCM (UEF), về những cơ hội từ BRICS và tiềm năng phát triển quan hệ song phương Việt – Ấn.
5 cơ hội lớn cho Việt Nam
Theo TS George, chuyến công tác của Thủ tướng Lê Minh Hưng có ý nghĩa đặc biệt vì diễn ra đúng lúc quan hệ Việt Nam – Ấn Độ đang chuyển dịch từ thiện chí chính trị sang một quan hệ đối tác kinh tế và chiến lược thực chất hơn nhiều.
Việc Thủ tướng dự hội nghị và tiếp xúc song phương với Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi phát đi thông điệp rằng Việt Nam ngày càng xem Ấn Độ là đối tác then chốt cho giai đoạn phát triển kinh tế và công nghệ tiếp theo.
Chuyên gia kinh tế Ấn Độ đặt việc tham gia BRICS vào mạch phát triển dài hạn của Việt Nam: “Thành công kinh tế của Việt Nam nhiều thập kỷ qua được xây dựng trên sự mở cửa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế, sản xuất, xuất khẩu và khả năng duy trì quan hệ mang tính xây dựng với các trung tâm quyền lực toàn cầu khác nhau.
Vì vậy, việc tham gia BRICS với tư cách quốc gia đối tác cần được nhìn nhận trong triết lý kinh tế bao quát đó”.
Từ góc độ kinh tế, ông chỉ ra 5 cơ hội lớn mà tư cách đối tác BRICS mở ra cho Việt Nam: đa dạng hóa thị trường, chuỗi cung ứng và tài chính – kỹ thuật số, cùng hợp tác về hạ tầng kết nối và công nghệ chiến lược.
Ông George phân tích: “Theo tôi, Việt Nam hiện diện tại BRICS không đơn thuần mang ý nghĩa biểu tượng. Giá trị kinh tế của BRICS rốt cuộc sẽ được đo lường bằng việc Việt Nam tạo ra thêm bao nhiêu lựa chọn, trong bối cảnh thuế quan, trừng phạt, hạn chế công nghệ, mức độ tập trung của chuỗi cung ứng và cạnh tranh địa chính trị ngày càng chi phối thương mại quốc tế”.
Nhưng ông lưu ý đa dạng hóa không xảy ra chỉ nhờ tuyên bố của các nhà lãnh đạo chính trị. Nó chỉ thực sự xảy ra khi doanh nghiệp nhận thấy một nhà cung cấp, địa điểm sản xuất hay thị trường thay thế cạnh tranh hơn về thương mại, đáng tin cậy hơn về logistics và ít rủi ro hơn về vận hành.
Vì vậy, Việt Nam cần chuyển hóa đà tiến triển ngoại giao thành một chương trình thực thi kinh tế có thể đo lường được.
BRICS từ góc độ quan hệ Việt – Ấn

TS Majo George, Trưởng khoa kinh tế Trường đại học Kinh tế – Tài chính TP.HCM (UEF) – Ảnh: NVCC
Để thấy cơ chế đa phương bổ trợ được gì cho hợp tác song phương, TS George phân định rõ: “Quan hệ song phương là nơi việc kinh doanh diễn ra, trong khi các nền tảng đa phương cải thiện môi trường kinh doanh”.
Theo ông, nhà xuất khẩu cà phê Việt Nam không bán cà phê cho “BRICS”, mà bán cho một công ty nhập khẩu ở Ấn Độ, Trung Quốc hoặc Brazil. Tương tự, không ai dựng một nhà máy “ở BRICS”, mà là ở một quốc gia cụ thể.
Do đó, các mối quan hệ song phương vẫn là nền tảng cốt lõi. Điều BRICS mang đến không đơn giản là ngồi vào một bàn thảo luận nữa, mà là cho Việt Nam thêm nhiều chiếc bàn để tiếp xúc, thương lượng và xây dựng các lựa chọn kinh tế.
Lớp giá trị mà cơ chế đa phương bổ sung, theo ông, nằm ở những thứ một doanh nghiệp đơn lẻ không tự giải quyết được: thuận lợi hóa thương mại, kết nối tài chính, tài chính phát triển, tiêu chuẩn, logistics, khoáng sản thiết yếu và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.
Trong nhóm này, Ấn Độ có lẽ là phép thử thú vị nhất với Việt Nam. TS George cho rằng hai nền kinh tế có mức độ bổ trợ lẫn nhau đáng kể, nhưng phần lớn tiềm năng đó vẫn chưa được chuyển hóa thành thương mại và đầu tư thực tế.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, thương mại song phương vượt 10 tỉ USD, đạt xấp xỉ 60% kim ngạch cả năm 2025 – cho thấy nhu cầu giao thương đã tồn tại và điều còn thiếu là một kiến trúc kinh tế vững chắc hơn nhiều xung quanh nhu cầu đó.
Và đó là chỗ cơ chế đa phương phát huy tác dụng: BRICS mở ra chủ đề, còn song phương mới là nơi ký kết và thực thi.
Thanh toán là ví dụ đang thành hình. Khi các nền kinh tế BRICS bàn nhiều hơn về việc dùng bản tệ và các kênh thanh toán xuyên biên giới thay thế, Việt Nam và Ấn Độ đã có công cụ riêng để đi trước: bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ về đổi mới tài chính và thanh toán số, cùng hợp tác liên thông thanh toán QR xuyên biên giới.
Nhưng TS George lưu ý hợp tác trong BRICS không nên dừng lại ở các tuyên bố và hội nghị.
Việt Nam nên tận dụng chính quan hệ đang lên với Ấn Độ để biến những chương trình nghị sự đa phương thành dự án cụ thể – từ cảng biển, đường sắt, metro đô thị đến năng lượng tái tạo, hạ tầng số và các lĩnh vực hai nước đã cùng điểm danh như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo hay khoáng sản thiết yếu.
Tiến xa hơn 2030

Thủ tướng Lê Minh Hưng tiếp ông Sanjay Dhawan – Phó Chủ tịch Tập đoàn ACME – Ảnh: TTXVN
Chuyên gia kinh tế này bày tỏ niềm tin vào mục tiêu thương mại song phương Việt – Ấn đạt 25 tỉ USD vào năm 2030, nhưng cho rằng đó không phải thước đo duy nhất.
TS George nhấn mạnh: “Quan điểm bao quát hơn của tôi là Việt Nam và Ấn Độ nên tránh chỉ định nghĩa thành công bằng một con số kim ngạch. Con số 25 tỉ USD rất quan trọng, nhưng câu hỏi căn bản hơn là: đến năm 2030 và 2040, hai nước sẽ cùng nhau tạo dựng những năng lực gì?”.
Theo ông, hai bên không nên hướng đến con số này bằng cách cố gắng bán nhiều hơn những mặt hàng của hôm nay, mà bằng cách tạo ra các hạng mục thương mại và đầu tư hoàn toàn mới.
Ông đề xuất quan hệ song phương phát triển xoay quanh 5 nền tảng liên kết chặt chẽ với nhau: kỹ thuật số, sản xuất, kết nối logistics, phát triển xanh và tri thức. Và một yếu tố kết nối cả năm nền tảng: con người.
Trong số đó, kết nối logistics được ông George nhiều lần nhấn mạnh – vừa là điểm nghẽn lớn, vừa là chìa khóa để bứt phá thương mại.
Theo ông, rào cản giao thương đôi khi không nằm ở thuế quan, mà là sự cộng gộp của thời gian, thủ tục giấy tờ, khâu trung chuyển và sự bất định. Do đó, logistics phải được đưa vào trung tâm của ngoại giao kinh tế, chứ không chỉ làm nền như hiện tại.
“Hai nước cần khẩn trương phát triển các tuyến vận tải biển trực tiếp, chuỗi cung ứng lạnh, mạng lưới logistics nông – thủy sản và số hóa thủ tục hải quan. Khi những biến số này được giảm thiểu và tối ưu hóa, kim ngạch thương mại song phương chắc chắn sẽ tăng trưởng đột phá”, ông George đề xuất.
Với ông, đó cũng là thước đo quan trọng nhất về vai trò của BRICS đối với Việt Nam: không phải Việt Nam dự bao nhiêu cuộc họp, mà là chuyển hóa không gian ngoại giao ấy thành thị trường mới, dòng vốn đầu tư, công nghệ, kỹ năng, hạ tầng và cơ hội phát triển bền vững cho người dân.