Việc số thuế đã nộp của 20 doanh nghiệp đứng đầu chiếm 62% Top 200 cho thấy Việt Nam đã hình thành những tập đoàn lớn nhưng theo VCCI, vẫn có thể tiềm ẩn rủi ro.
Tại tọa đàm về nguồn lực tăng trưởng quốc gia chiều 15/9, ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), phân tích về mức độ tập trung lớn trong cơ cấu đóng góp ngân sách.
Theo bảng xếp hạng VNTAX 2026 do CafeF công bố, tổng số thực nộp ngân sách năm 2025 của 200 doanh nghiệp lớn nhất đạt 989.300 tỷ đồng, tăng 25% so với kỳ trước và tương đương 37,3% tổng thu ngân sách cả nước.
Trong Top 200, 20 doanh nghiệp đứng đầu nộp khoảng 614.000 tỷ đồng (chiếm 62,1%). Top 100 cũng đóng góp 92%, trong khi 100 doanh nghiệp còn lại chỉ chiếm khoảng 8% nguồn thu.
Theo ông Tuấn, số liệu này cho thấy nguồn thu đang phụ thuộc đáng kể vào một nhóm rất nhỏ doanh nghiệp. Đây là thế mạnh khi Việt Nam đã hình thành những tập đoàn quy mô lớn. Song điều này cũng tạo rủi ro cho nguồn thu ngân sách nếu các doanh nghiệp dẫn đầu suy giảm sức khỏe tài chính hoặc khó khăn trong kinh doanh.
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), phát biểu tại sự kiện. Ảnh: CafeF
Mức độ tập trung còn thể hiện qua phần tăng thêm của nguồn thu. Tổng đóng góp ngân sách của nhóm 200 doanh nghiệp tăng khoảng 195.300 tỷ đồng trong năm 2025. Riêng Vingroup đóng góp gần 47% mức tăng này, với số nộp 148.773 tỷ đồng, so với 56.200 tỷ đồng một năm trước. Nếu loại doanh nghiệp này, mức tăng của 199 đơn vị còn lại khoảng 13,9%.
“Một đỉnh cao mới đã xuất hiện, nhưng cần củng cố nền tháp dày dặn hơn”, ông Tuấn nói. Hiện 200 doanh nghiệp trong bảng xếp hạng chỉ tương đương khoảng 0,02% trong hơn một triệu doanh nghiệp đang hoạt động chính thức. Do đó, dư địa phát triển ở phần nền tháp những năm tới còn rất rộng.
Xét theo loại hình sở hữu, doanh nghiệp nhà nước nộp hơn 424.000 tỷ đồng, giữ tỷ trọng lớn nhất trong Top 200. Cơ cấu nhóm này tương đối cân bằng hơn, gồm 7 doanh nghiệp nhà nước nộp 243.600 tỷ đồng, 6 doanh nghiệp tư nhân đóng góp 232.500 tỷ đồng và 7 doanh nghiệp FDI nộp 137.800 tỷ đồng.
Tại tọa đàm, đại diện các doanh nghiệp cho rằng vai trò của nhóm dẫn đầu không nên dừng ở quy mô doanh thu hay số thuế nộp ngân sách, mà cần tạo thêm năng lực mới cho nền kinh tế và kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp khác.
Bà Vũ Thị Hải Phượng, Phó chủ tịch HĐQT MB, cho rằng một doanh nghiệp lớn có thể tạo giá trị cho chính mình, nhưng doanh nghiệp “kiến tạo” phải tạo được năng lực trở thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Với một ngân hàng như MB, một trong những mục tiêu là dẫn dắt dòng vốn vào các doanh nghiệp hiệu quả, qua đó giúp số doanh nghiệp quy mô lớn tiếp tục tăng lên.
Ở lĩnh vực hạ tầng công nghiệp, ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch Kinh Bắc, cho rằng Việt Nam “không thể chỉ mãi là một công xưởng sản xuất”. Theo ông, phát triển công nghiệp sẽ đến lúc chạm ngưỡng, trong khi các ngành dịch vụ có thể tạo nguồn thu ngân sách ổn định và bền vững hơn. Doanh nghiệp này cho biết các khu công nghiệp của họ thu hút khoảng 10 tỷ USD vốn FDI và tạo thêm khoảng 75.000 việc làm mỗi năm.
Trong khi đó, Vietjet đặt mục tiêu mở rộng chuỗi giá trị từ vận tải sang đào tạo, bảo dưỡng tàu bay, dịch vụ mặt đất và các hoạt động phụ trợ. Bà Hồ Ngọc Yến Phương, Phó chủ tịch HĐQT Vietjet, ước tính một hãng hàng không hiện phải chi khoảng 200-300 triệu USD mỗi năm ra nước ngoài cho một số dịch vụ. Vì vậy, doanh nghiệp muốn hợp tác với các đối tác quốc tế để từng bước đưa các hoạt động này về Việt Nam.
“Tại sao chúng ta không thu hút nguồn lực đó trong nước, hợp tác với để giữ số ngoại tệ đó tại Việt Nam”, bà nói, cho biết đây là những trăn trở về việc tiết kiệm chi phí và tận dụng nguồn lực để phát triển đội ngũ tại Việt Nam.
Ngoài vấn đề phụ thuộc vào một số doanh nghiệp dẫn đầu, đại diện VCCI cũng lưu ý rủi ro từ cơ cấu nguồn thu. Nhóm bất động sản, xây dựng và năng lượng đóng góp tới 45,9% tổng số nộp của 200 doanh nghiệp.
Theo ông Tuấn, nguồn thu từ đất đai hiện giữ vai trò quan trọng với phát triển kinh tế và cân đối ngân sách. Tuy nhiên, đây là nguồn thu chịu ảnh hưởng lớn từ chu kỳ thị trường, khó duy trì mức tăng ổn định qua từng năm.
“Nếu thị trường bất động sản trục trặc, ngân sách sẽ chịu những cú sốc lớn. Đây là bài toán cần giải quyết”, ông nói.
Thực tế, nguồn thu liên quan đất đai có thể tăng mạnh khi thị trường thuận lợi, nhiều dự án được giao đất, đấu giá hoặc triển khai. Ngược lại, khi thanh khoản bất động sản suy giảm, tiến độ dự án đình trệ hay đấu giá đất không thành công, khoản thu này có thể giảm nhanh. Vì vậy, kết quả cao trong một năm chưa chắc phản ánh năng lực tạo nguồn thu ổn định về dài hạn.
Ông Tuấn cho rằng ngân sách cần được củng cố bằng nguồn thu từ sản xuất, kinh doanh, năng suất lao động và giá trị gia tăng tạo ra trong nước. Trong nhóm 200 doanh nghiệp, công nghệ và viễn thông mới đóng góp 6,6%, thấp hơn đáng kể so với các ngành gắn với tài sản, tài nguyên hoặc hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Đại diện VCCI cũng lưu ý dòng vốn tín dụng cần chảy nhiều hơn vào sản xuất, kinh doanh để nâng năng suất và tạo ra của cải vật chất. Nếu vốn chủ yếu được dùng để nắm giữ tài sản, đây không phải tín hiệu tích cực cho tính bền vững của nền kinh tế.
Để giảm mức độ phụ thuộc vào “đỉnh tháp”, theo ông Tuấn, Việt Nam cần mở rộng số lượng doanh nghiệp có quy mô và năng lực đóng góp lớn. Điều này đòi hỏi chi phí tuân thủ vừa sức, thủ tục thuế thuận lợi, chính sách ổn định và nghĩa vụ tài chính có thể dự báo được.
Ông cũng cho rằng đóng góp của doanh nghiệp không chỉ đánh giá bằng số tiền nộp ngân sách, mà cần tính thêm giá trị gia tăng giữ lại trong nước, số việc làm, hiệu quả trên doanh thu và mức độ lan tỏa tới chuỗi cung ứng.
Phương Dung