Khi trái phiếu ‘định giá’ lại cổ phiếu: Lợi suất toàn cầu đang tác động thế nào đến VN-Index?

Khi trái phiếu 'định giá' lại cổ phiếu: Lợi suất toàn cầu đang tác động thế nào đến VN-Index? - Ảnh 1.

VN-Index sẽ chịu tác động trước những biến số mang tính toàn cầu – Ảnh: HỮU HẠNH

VN-Index bước vào phiên 3-9 từ mức 1.832,12 điểm, sau khi tăng 5,55% trong tháng 8. Áp lực bán xuất hiện từ đầu phiên, có lúc kéo chỉ số xuống 1.802,11 điểm, thấp hơn tham chiếu khoảng 30 điểm.

Lực cầu sau đó giúp thị trường hồi phục. VN-Index kết phiên sáng ở 1.821,61 điểm, giảm 10,51 điểm, tương ứng 0,57%, nhưng đã lấy lại 19,5 điểm so với đáy.

Lợi suất toàn cầu tăng, sức ép lan sang thị trường trong nước?

Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) hiện duy trì lãi suất mục tiêu ở 3,5-3,75%. Tại cuộc họp cuối tháng 7, ba thành viên Ủy ban Thị trường mở liên bang (FOMC) ủng hộ tăng thêm 0,25 điểm phần trăm. 

Ngày 2-9, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ (UST) kỳ hạn 10 năm đạt 4,79%, tăng 60 điểm cơ bản so với đầu năm. UST 2 năm tăng mạnh hơn, từ 3,47% lên 4,39%, tương ứng 92 điểm cơ bản. Chênh lệch lợi suất giữa hai kỳ hạn thu hẹp từ 72 xuống 40 điểm cơ bản.

Lợi suất thực UST 10 năm cũng tăng từ 1,94% lên 2,45%, tương ứng 51 điểm cơ bản. Mức tăng này tương đương khoảng 85% phần tăng của lợi suất danh nghĩa cùng kỳ hạn.

Không chỉ tại Mỹ, lợi suất trái phiếu tại Anh, Đức và Pháp cũng đi lên. Khi tài sản có thu nhập cố định mang lại mức sinh lời cao hơn, tỉ suất sinh lời yêu cầu đối với các tài sản rủi ro cũng có xu hướng dịch lên.

Đối với các thị trường mới nổi, sự thay đổi này còn có thể tác động thông qua dòng vốn quốc tế, đồng USD và tỉ giá. Với cổ phiếu Việt Nam, một kênh truyền dẫn khác nằm ở chính thị trường vốn bằng VND.

Lãi suất tiền tệ, lợi suất trái phiếu Chính phủ và chi phí huy động tăng làm thay đổi mức sinh lời mà nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu khi nắm giữ cổ phiếu. Ngay cả khi triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp chưa suy giảm tương ứng, định giá thị trường vẫn có thể điều chỉnh trước.

Kinh tế tăng trưởng, nhưng giá vốn VND đã cao hơn

Trong nước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 tăng 4,89% so với cùng kỳ. Bình quân 8 tháng, CPI tăng 4,45%, còn lạm phát cơ bản tăng 4,24%. Áp lực giá trong lúc kinh tế mở rộng khiến khả năng giảm nhanh mặt bằng lãi suất trở nên hạn chế hơn.

Cuối ngày 28-8, lãi suất VND liên ngân hàng qua đêm ở 7,5%, tăng 4,5 điểm phần trăm trong một tuần; kỳ hạn một tuần ở 7,25%. Cùng thời gian, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỉ đồng qua thị trường mở. Nguồn tiền được bổ sung, nhưng chi phí vay ngắn hạn đã tăng mạnh.

Ngoại thương cũng tạo thêm nhu cầu ngoại tệ. Xuất khẩu 8 tháng đạt 374,84 tỉ USD, trong khi nhập khẩu lên 395,3 tỉ USD, đưa cán cân thương mại sang nhập siêu 20,46 tỉ USD. Tư liệu sản xuất chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu, cho thấy phần lớn nhu cầu ngoại tệ gắn với máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất.

Trên thị trường thứ cấp ngày 28-8, lợi suất trái phiếu chính phủ 5 năm ở 4,3%, cao hơn 1,05 điểm phần trăm so với cuối năm trước. Kỳ hạn 10 năm ở 4,45%, tăng 0,41 điểm phần trăm; kỳ hạn 15 năm ở 4,58%, tăng 0,47 điểm phần trăm.

Chi phí vốn doanh nghiệp cũng đi lên. Lãi suất bình quân gia quyền của trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong 7 tháng đầu năm vào khoảng 9,5%, cao hơn 2,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Riêng các đợt phát hành bất động sản trong tháng 7 có lãi suất 12,5%/năm.

Khi các kênh vốn bằng VND cùng đắt hơn, hệ số giá trên lợi nhuận (P/E) của cổ phiếu có thể thu hẹp ngay cả khi lợi nhuận doanh nghiệp còn tăng.

Nếu P/E giảm 10%, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) phải tăng khoảng 11,1% để giá trị giữ nguyên. Nếu P/E giảm 15%, EPS phải tăng khoảng 17,6%.

Sức ép sẽ khác nhau giữa các ngành. Bất động sản nhạy với tái cấp vốn; công ty chứng khoán chịu ảnh hưởng từ giá vốn cho vay ký quỹ; ngân hàng chịu tác động qua chi phí huy động và lợi suất tài sản. Doanh nghiệp sản xuất còn đối mặt với nguyên liệu nhập khẩu, tỉ giá và vận tải.

Với doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ, lãi suất vay mới và chi phí tái cấp vốn cao hơn sẽ làm tăng chi phí tài chính, thu hẹp dòng tiền dành cho đầu tư. Áp lực vì thế có thể xuất hiện ở P/E trước, rồi dần đi vào biên lợi nhuận và EPS.

Nguồn bài viết

Chia sẻ bài báo