‘Làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm, đổi tư duy làm giàu từ biển’

Khánh HòaBộ trưởng Vũ Hải Quân cho rằng cần xác định rõ các nhiệm vụ ưu tiên để Việt Nam làm chủ công nghệ sản xuất tôm giống, thay đổi tư duy từ khai thác sang làm giàu từ biển.

Thông tin được Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nêu trong Hội thảo “Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển và chọn giống tôm nước lợ tại Việt Nam”, tổ chức ngày 18/10.

Ông nhấn mạnh yêu cầu nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển, cần tập trung nguồn lực giải quyết những vấn đề trọng tâm, ưu tiên các khâu còn hạn chế, chưa làm chủ được về công nghệ, tránh triển khai dàn trải.

Đối với chọn tạo giống tôm nước lợ, cần gắn mục tiêu nghiên cứu với yêu cầu thực tiễn của sản xuất. Các bên cần xác định những tính trạng chọn giống ưu tiên, trong đó chú trọng sinh trưởng, khả năng kháng bệnh và chống chịu với điều kiện bất lợi; đồng thời quan tâm đến việc chủ động nguồn tôm bố mẹ.

Các định hướng nghiên cứu cần được chuyển hóa thành chương trình, nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có mục tiêu rõ ràng.

Theo ông, cần tổ chức thực hiện theo mô hình hợp tác Nhà nước – Nhà khoa học -Doanh nghiệp, với vai trò và trách nhiệm rõ ràng. Hợp tác quốc tế cần được triển khai có mục tiêu, gắn với những vấn đề Việt Nam cần giải quyết và yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ công nghệ. “Đây là công việc lâu dài, cần kết hợp năng lực nghiên cứu của viện, trường với năng lực tổ chức sản xuất, đầu tư và phát triển sản phẩm của doanh nghiệp”, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nói.

Ông đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xác định rõ các nhóm vấn đề ưu tiên, mục tiêu cần đạt, đơn vị có thể chủ trì hoặc tham gia, nguồn lực dự kiến và lộ trình thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng chương trình, nhiệm vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp để xem xét đặt hàng hoặc phê duyệt theo quy định. Việc xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ cần bảo đảm tính hệ thống, liên kết giữa các hướng nghiên cứu và các giai đoạn triển khai.

“Cần thay đổi tư duy từ khai thác biển sang làm giàu từ biển. Bộ Khoa học và Công nghệ cam kết phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và chuyên gia trong nước, quốc tế để thúc đẩy các định hướng, nhiệm vụ được xác định sau hội thảo”, Bộ trưởng nói.





Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân tại hội thảo ngày 18/10. Ảnh: Bùi Toàn

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân tại hội thảo ngày 18/10. Ảnh: Bùi Toàn

Tôm hùm biển và tôm nước lợ là những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế, gắn với sinh kế của người dân, hoạt động của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản. Chất lượng con giống, khả năng chủ động nguồn giống và năng lực làm chủ công nghệ chọn tạo giống ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất, khả năng kiểm soát dịch bệnh và tính bền vững của ngành.

Đối với tôm hùm, nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là kỹ thuật nuôi vỗ và chất lượng tôm bố mẹ, dinh dưỡng và thức ăn cho ấu trùng, điều kiện sinh lý, sinh thái, môi trường và hệ thống ương nuôi, cũng như giai đoạn chuyển từ ấu trùng sang tôm giống.

Đối với tôm nước lợ, yêu cầu đặt ra là tiếp tục nâng cao năng lực chọn tạo giống, chủ động nguồn tôm bố mẹ, xác định các tính trạng chọn giống phù hợp như sinh trưởng, khả năng kháng bệnh và chống chịu với điều kiện bất lợi; đồng thời duy trì, nâng cao chất lượng đàn giống qua các thế hệ.





Ao nuôi tôm trong nhà kính của Tập đoàn Việt - Úc. Ảnh: Oanh Võ

Ao nuôi tôm trong nhà kính của Tập đoàn Việt – Úc. Ảnh: Oanh Võ

Tại hội thảo, ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, nghiên cứu sản xuất giống tôm hùm nhân tạo tại Việt Nam đã đạt một số kết quả đáng ghi nhận. Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam đã làm chủ kỹ thuật nuôi vỗ, thuần hóa tôm hùm bông bố mẹ, cho sinh sản và ấp nở trứng với tỷ lệ ấu trùng sống đạt trên 80%.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa tạo được tôm hùm giống ở một số giai đoạn trong điều kiện nhân tạo. Khó khăn chủ yếu nằm ở chu kỳ phát triển ấu trùng kéo dài, yêu cầu khắt khe về dinh dưỡng, môi trường nước, hệ thống ương nuôi và tỷ lệ hao hụt cao trong giai đoạn biến thái.

Theo báo cáo, nhu cầu tôm hùm giống phục vụ nuôi thương phẩm hàng năm ước khoảng 100 -150 triệu con. Trong khi đó, nguồn giống khai thác từ vùng biển miền Trung chỉ cung cấp khoảng 10 triệu con, phần lớn nhu cầu còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu.

Năm 2024, Việt Nam nhập khẩu khoảng 92 triệu con tôm hùm giống; năm 2025 là 78 triệu con. Việc phụ thuộc nguồn cung bên ngoài tiềm ẩn nguy cơ gián đoạn sản xuất khi các quốc gia xuất khẩu thay đổi chính sách hoặc hạn chế khai thác. Bên cạnh đó, chất lượng con giống, dịch bệnh và tình trạng nhập khẩu không chính ngạch cũng đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý. Trong khi đó, quy mô nuôi tôm hùm trong nước tiếp tục phát triển.

Sản lượng tôm hùm nuôi năm 2025 đạt hơn 15.268 tấn, tăng mạnh so với mức 3.945 tấn năm 2023. Sự tăng trưởng này cho thấy tiềm năng kinh tế của ngành hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về chủ động nguồn giống.

Từ thực tế này, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề xuất xây dựng chương trình nghiên cứu trọng điểm về sản xuất giống tôm hùm nhân tạo; tăng cường hợp tác quốc tế, tập trung hoàn thiện công nghệ thức ăn, hệ thống ươm nuôi.

Đối với tôm nước lợ, Chương trình chọn giống tôm sú đã phát triển đến thế hệ G7, ứng dụng chỉ thị phân tử kết hợp chọn lọc gia đình nhằm cải thiện tốc độ sinh trưởng và khả năng chống chịu dịch bệnh.

Đối với tôm thẻ chân trắng, chương trình chọn giống qua 9 thế hệ đã tạo ra các dòng tôm có tốc độ tăng trưởng cao hơn 15 – 25% so với đàn ban đầu. Tuy nhiên, nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng lớn, đòi hỏi tiếp tục đầu tư nghiên cứu và phát triển các dòng giống trong nước.





Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) trình bày tham luận. Ảnh: Bùi Toàn

Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) trình bày tham luận. Ảnh: Bùi Toàn

Hợp tác để rút ngắn quá trình nghiên cứu sản xuất giống tôm

Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, TS Mathew Cook, đại diện CSIRO (Australia), cho rằng phát triển giống thủy sản giá trị cao cần cách tiếp cận đa ngành, kết hợp nghiên cứu sinh học, công nghệ sản xuất, khả năng thương mại hóa và hiệu quả kinh tế.

Theo chuyên gia, thành công trong nghiên cứu chưa đồng nghĩa với khả năng sản xuất thương mại nếu chưa giải quyết được bài toán chi phí. Từ kinh nghiệm nghiên cứu tại Australia, TS Mathew Cook nhấn mạnh thông điệp “Đi xa quan trọng hơn đi nhanh”, đồng thời đề cao vai trò đầu tư dài hạn của Chính phủ và hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp.

Ở góc độ doanh nghiệp, TS Lữ Đức Bryce, Phó tổng giám đốc Di truyền và Hệ gene Tập đoàn Thủy sản Việt – Úc, trình bày các hướng nghiên cứu được đề cập gồm nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng, rút ngắn thời gian phát triển, cải thiện hiệu suất sinh sản của tôm bố mẹ, tăng khả năng kháng bệnh và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn.





TS Lữ Đức Bryce, Phó Tổng Giám đốc phụ trách Hệ gen và Di truyền Tập đoàn Thủy sản Việt-Úc trình bày tham luận. Ảnh: Bùi Toàn

TS Lữ Đức Bryce trình bày tham luận. Ảnh: Bùi Toàn

TS Lữ Đức Bryce cho biết, từ nền tảng nghiên cứu di truyền và chọn giống tôm thẻ chân trắng, tập đoàn Việt – Úc đã phát hiện nhiều gene tương đồng với tôm hùm bông, mở ra triển vọng ứng dụng các thành tựu chọn giống để cải thiện những tính trạng quan trọng của loài này.

Với hơn 25 năm đầu tư vào công nghệ, hệ thống nghiên cứu và sản xuất giống, tập đoàn có cơ sở để tham gia phát triển chương trình chọn giống tôm hùm bông. Đồng thời, doanh nghiệp xác định hợp tác quốc tế là yếu tố quan trọng nhằm tiếp cận công nghệ tiên tiến, rút ngắn quá trình nghiên cứu và từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm bông tại Việt Nam.

Bùi Toàn




Nguồn bài viết

Chia sẻ bài báo