Để triển khai chương trình điện hạt nhân hiệu quả, bền vững, cần xây dựng năng lực khoa học công nghệ, trong đó nhân lực chuyên sâu cho vận hành, nghiên cứu, phát triển là khoảng trống lớn nhất phải bù đắp.
Trao đổi với VnExpress về các công việc cần chuẩn bị khi Việt Nam tái khởi động chương trình điện hạt nhân, TS Trần Chí Thành, Viện trưởng Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Vinatom), cho rằng xây dựng nhà máy mới là bước đầu. Để vận hành năng lượng hạt nhân an toàn, hiệu quả dài hạn, Việt Nam cần phát triển đồng bộ năng lực khoa học công nghệ, đào tạo và quản lý.
TS Trần Chí Thành, Viện trưởng Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Ảnh: Vinatom
– Ông từng nói phát triển điện hạt nhân không chỉ là xây nhà máy mà còn cần một hệ sinh thái, cụ thể là những yếu tố nào?
– Bài học từ các nước đã phát triển về điện hạt nhân cho thấy cần ba trụ cột chính. Thứ nhất là các nhà máy điện hạt nhân – xây dựng, triển khai dự án và đưa vào vận hành theo yêu cầu của chủ đầu tư. Thứ hai, cơ quan pháp quy đặt ra các yêu cầu, đánh giá, kiểm tra và giám sát để đảm bảo an toàn về con người, môi trường. Thứ ba là trụ cột về nghiên cứu phát triển, các viện nghiên cứu và trường đại học tư vấn, phân tích và giải đáp những vấn đề liên quan đến công nghệ, an toàn hạt nhân mà dự án hoặc cơ quan quản lý đặt ra.
Trong bối cảnh các công nghệ vận hành mới phát triển, sẽ xuất hiện những rủi ro chưa được biết đến trước đây, do đó cần các nhà khoa học tìm hiểu, dự đoán và đề xuất cách kiểm soát.
Nghiên cứu phát triển còn có vai trò tạo ra các thế hệ nhân lực kế cận cho chương trình điện hạt nhân. Tham gia vào các nghiên cứu, cán bộ trẻ được học hỏi từ chuyên gia đi trước, tích lũy kinh nghiệm và phát triển chuyên môn. Các viện nghiên cứu, trường đại học vì thế vừa hỗ trợ về mặt khoa học công nghệ cho các nhà máy điện hạt nhân và cơ quan quản lý, vừa là nơi đào tạo, bổ sung đội ngũ chuyên gia trong dài hạn.
Nhà máy chỉ là điểm khởi đầu. Để vận hành an toàn, hiệu quả qua nhiều thế hệ, cần một hệ sinh thái trong đó đầu tư, quản lý, nghiên cứu phát triển bổ trợ lẫn nhau.
– Những lực lượng nào có thể tham gia ngay vào dự án điện hạt nhân và đâu là khoảng trống lớn nhất?
– Vinatom hiện có các nhóm nghiên cứu về công nghệ, an toàn điện hạt nhân và đội ngũ chuyên gia, cố vấn được đào tạo tại Nga và một vài nước. Đây là những người có thể tham gia tư vấn và đào tạo cơ bản về điện hạt nhân.
Tuy nhiên, cần phân biệt nhân lực của ngành năng lượng nguyên tử nói chung, nghiên cứu ứng dụng năng lượng nguyên tử, với nhân lực chuyên sâu cho vận hành, nghiên cứu, phát triển điện hạt nhân. Đây là khoảng trống lớn nhất. Cần xây dựng đội ngũ những kỹ sư chủ chốt với kinh nghiệm tại nhà máy điện hạt nhân và mở rộng thêm đội ngũ nghiên cứu có khả năng phân tích công nghệ, đánh giá an toàn và giải quyết các bài toán kỹ thuật chuyên sâu.
Việt Nam ở giai đoạn đầu chuẩn bị nhân lực
– Đào tạo nhân lực điện hạt nhân đòi hỏi yêu cầu cao, đa ngành, vậy Việt Nam đang ở đâu trong quá trình chuẩn bị?
– 10 năm là thời gian đào tạo cho đội ngũ vận hành chủ chốt, theo kinh nghiệm của một số nước phát triển về điện hạt nhân. Đầu tiên là bậc đại học cung cấp nền tảng, kéo dài khoảng 4-6 năm. Sau đó, người học tiếp tục các khóa nâng cao, chuyên sâu, huấn luyện trên hệ thống mô phỏng. Khi đã hoàn thành sát hạch, có thể giải quyết được các vấn đề giả thiết trên hệ thống mô phỏng, cần thêm một vài năm thực tập tại nhà máy trước khi có thể đảm nhận vị trí.
Quá trình này đi kèm chọn lọc liên tục, không phải ai tốt nghiệp cũng có thể vào phòng điều khiển lò phản ứng. Để đảm nhiệm vị trí chủ chốt, người kỹ sư phải hiểu sâu hoạt động của lò và chứng minh khả năng xử lý các tình huống vận hành, đặc biệt là xử lý sự cố.
Nếu có bất thường hay sự cố như vỡ ống, hỏng bơm, người vận hành giỏi sẽ biết cách xử lý và không để sự cố tiến triển. Người vận hành thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức nền và kỹ năng xử lý tình huống sẽ làm cho sự cố thêm trầm trọng. Hiện các công cụ mô phỏng, tính toán, phân tích tình huống, đưa ra hướng dẫn dựa trên AI sẽ hỗ trợ hiệu quả cho quá trình vận hành. Tuy nhiên vai trò của con người là vô cùng quan trọng. Sự cố Chernobyl là ví dụ điển hình.
Một dự án điện hạt nhân kéo dài nhiều thế hệ, đội ngũ cần được bổ sung liên tục, do đó cần xây dựng nguồn nhân lực trong nước. Hiện chúng ta vẫn ở giai đoạn đầu chuẩn bị nhân lực cho điện hạt nhân.
Về đội ngũ sẵn có, hơn 300 cán bộ từng được đào tạo ở Nga về điện hạt nhân. Tuy nhiên phần lớn đã chuyển công tác khi chương trình điện hạt nhân dừng lại, ước tính có thể huy động 20-30%. Nhóm này cũng chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế với nhà máy, cần đào tạo lại nếu muốn đưa vào các vị trí vận hành.
Về đào tạo mới, đã có đề án Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035 theo Quyết định số 1012/QĐ-TTg ngày 26/5/2025 của Thủ tướng, nhưng quan trọng là cần lắng nghe ý kiến chuyên gia, cùng xây dựng các phương án triển khai sao cho hiệu quả.
Một nhà máy như Ninh Thuận 1 cần khoảng 1.000 kỹ sư, trong đó 200-300 trực tiếp vận hành lò, còn lại đảm nhiệm các hệ thống phụ trợ. Với nhu cầu và khả năng của Việt Nam hiện nay, nên xây dựng chương trình đào tạo về Công nghệ điện hạt nhân – Nuclear Engineering – cho nhóm cán bộ chủ chốt tại một hoặc hai trường kỹ thuật tốt nhất, đã có nền tảng mạnh về vật lý, hóa học, tự động hóa, cơ khí chế tạo, vật liệu thép hợp kim… Đội ngũ Vinatom có thể hợp tác để đào tạo các môn chuyên sâu về hạt nhân như vật lý hạt nhân, vật lý lò phản ứng, công nghệ điện hạt nhân, an toàn điện hạt nhân.
– Nếu chia nhu cầu nhân lực theo từng lĩnh vực, đâu là những nhóm ưu tiên đào tạo?
– Đầu tiên là đào tạo cán bộ vận hành. Trước mắt, chưa có các khoa Công nghệ điện hạt nhân ở trong nước, có thể gửi ra nước ngoài và sau 4-6 năm chúng ta sẽ có một đội ngũ được đào tạo chuyên sâu, bài bản.
Thứ hai là nhu cầu đào tạo cán bộ quản lý nhà nước. Với nhóm này, nên bắt đầu ngay bằng những khóa đào tạo trong nước. Đội ngũ chuyên gia tại Vinatom có đủ trình độ để có thể xây dựng, thực hiện những khóa ban đầu này. Việc học ngắn hạn, dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia Việt Nam, cũng là cách dễ tiếp cận nhất cho các cán bộ đang làm việc.
Cuối cùng, cần thiết nhưng là mục tiêu dài hạn hơn là các nhóm chuyên gia về quản lý an toàn với nền tảng kỹ thuật tốt, nhà nghiên cứu hàng đầu về điện hạt nhân. Chúng ta có thể chọn lọc từ những ứng viên có nền tảng khoa học tự nhiên để đào tạo trong nước. Trong quá trình sẽ tìm ra những người giỏi nhất, cũng như hướng nghiên cứu chuyên sâu phù hợp với họ, để gửi đi các viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu về điện hạt nhân trên thế giới.
Cần phải xác định việc đầu tư kinh phí, kể cả trong thời gian học tập và làm việc tại các cơ sở nghiên cứu nước ngoài, là cần thiết để tạo ra những chuyên gia đầu đàn của Việt Nam.
Cần theo chuẩn quốc tế
– Cần xây dựng chương trình đào tạo đại học như thế nào để đáp ứng yêu cầu của chương trình điện hạt nhân?
– Trong 11 cơ sở đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035, chỉ nên tập trung xây dựng chương trình Công nghệ hạt nhân, đào tạo kỹ sư chủ chốt, tại một hoặc hai trường có nền tảng mạnh nhất về kỹ thuật. Các cơ sở còn lại có thể đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên vận hành hệ thống phụ trợ – cơ khí, hóa học, kỹ thuật điện, điều khiển tự động, xử lý quản lý chất thải phóng xạ. Nhóm này chỉ cần có hiểu biết cơ bản về năng lượng hạt nhân.
Về chương trình đào tạo, phải đi theo chuẩn quốc tế, tham khảo từ các trường đại học hàng đầu thế giới về đào tạo điện hạt nhân của Nga, Mỹ, các nước phát triển. Hiện nay, chuẩn chương trình thiếu những nội dung cốt lõi về hạt nhân như vật lý neutron, lý thuyết lò phản ứng và động học lò phản ứng, cơ học dòng chảy, truyền nhiệt. Các môn này giúp kỹ sư hiểu quá trình diễn ra trong lò và các hệ thống liên quan. Để tạo ra đội ngũ kỹ sư đủ năng lực tham gia vào các dự án điện hạt nhân, buộc phải đảm bảo chất lượng chương trình, sau đó tìm các phương án giảng dạy có thể đáp ứng.
Có thể kết hợp thế mạnh của trường đại học, viện nghiên cứu và đối tác quốc tế. Các trường có thế mạnh về kỹ thuật, khoa học tự nhiên cung cấp nền tảng đa ngành, viện nghiên cứu tham gia những nội dung chuyên sâu về hạt nhân. Những học phần trong nước chưa đáp ứng được năng lực giảng dạy có thể hợp tác quốc tế.
– Trong lĩnh vực đặc thù như điện hạt nhân, cần có cơ chế như thế nào để phát triển nhân lực nghiên cứu chất lượng cao?
– Trước hết, phải sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đang có trong nước, mặc dù số lượng hiện nay là không nhiều. Trong lĩnh vực vật lý hạt nhân, chúng ta có những cán bộ được đào tạo bài bản, có năng lực và tâm huyết. Cần giao cho họ công việc đúng chuyên môn, nhiệm vụ đủ sức phát triển năng lực, cùng điều kiện về hạ tầng, đầu tư để xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh.
Thu nhập là yếu tố quan trọng, nhưng môi trường làm việc cũng quyết định việc một người có gắn bó với nghề hạt nhân hay không. Người làm khoa học cần có các vấn đề để giải quyết, đồng nghiệp để hợp tác và điều kiện thực hiện công việc.
Khi các nhóm nghiên cứu trong nước hoạt động tốt, họ sẽ biết đang thiếu năng lực nào và cần hợp tác quốc tế như thế nào để bổ sung. Như vậy, việc tuyển dụng chuyên gia từ nước ngoài mới có mục tiêu cụ thể và người được mời về cũng phát huy được năng lực chuyên ngành.
Chính sách đãi ngộ cũng cần tính đến sự hợp lý trong một nhóm làm việc. Nếu chênh lệch quá lớn giữa người trong nước và người được thu hút từ ngoài, dù cùng tham gia công việc, sẽ khó tạo động lực hợp tác lâu dài, đặc biệt là làm việc nhóm.
Nam Nguyễn
- ‘Việt Nam triển khai chương trình điện hạt nhân là nhiệm vụ chiến lược lâu dài’