Các chính sách mới tạo nhiều điểm thông thoáng, thống nhất để tổ chức nguồn lực, phát triển và thương mại hóa công nghệ chiến lược.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì tham mưu, thiết kế và cụ thể hóa loạt cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ chiến lược. Trong số này có Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, Nghị định 260 về biện pháp thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao và ba thông tư hướng dẫn (42, 48, 49) vừa ban hành.
Chia sẻ với VnExpress, Vụ trưởng Khoa học, kỹ thuật và công nghệ Nguyễn Phú Hùng cho biết, phát triển công nghệ chiến lược đòi hỏi cách quản lý khác với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thông thường. “Công nghệ chiến lược có bài toán lớn hơn, chu kỳ phát triển dài hơn, rủi ro công nghệ cao hơn và sự tham gia đồng thời của doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học cùng nhiều cơ quan quản lý”, ông lý giải.
Vụ trưởng Khoa học, kỹ thuật và công nghệ Nguyễn Phú Hùng, tại Hội nghị phổ biến các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, ngày 10/8. Ảnh: Thùy Linh
Theo Vụ Khoa học, kỹ thuật và công nghệ, các chính sách mới tạo khuôn khổ để tổ chức nguồn lực quốc gia, hướng tới làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm công nghệ chiến lược và đưa kết quả vào ứng dụng, thương mại hóa.
Điểm xuyên suốt là chuyển từ tư duy “quản lý đề tài” sang “quản trị để ra công nghệ, sản phẩm”. Theo đó, Nhà nước tập trung xác định bài toán, mục tiêu và kết quả cần đạt. Nhà nghiên cứu được trao quyền chủ động hơn về giải pháp kỹ thuật và sử dụng nguồn lực. Việc quản lý, cấp kinh phí và đánh giá được gắn với sản phẩm, gói công việc và các mốc kết quả có thể kiểm chứng. “Tất cả nhằm tạo đường chạy cho công nghệ chiến lược”, ông Hùng nhấn mạnh.
Cách tổ chức nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược
Theo Vụ trưởng Nguyễn Phú Hùng, có năm thay đổi cốt lõi trong cách tổ chức nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
Thứ nhất, nhiệm vụ phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ vấn đề cần giải quyết, tính tác động, công nghệ cần làm chủ, sản phẩm cần tạo ra và nơi tiếp nhận, ứng dụng hoặc thương mại hóa.
Thứ hai, một bài toán lớn có thể được tổ chức thành một nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ. Cách làm này cho phép nhiều bên cùng giải quyết các cấu phần khác nhau của một công nghệ hoặc sản phẩm, từ nghiên cứu, thiết kế, tích hợp, thử nghiệm, sản xuất thử đến chuyển giao và phát triển thị trường. Mục tiêu, gắn các nhiệm vụ với sản phẩm cuối cùng.
Chip bán dẫn và linh kiện điện tử của doanh nghiệp, đại học Việt Nam, trưng bày tại triển lãm bán dẫn SEMIEXPO Vietnam 2025, tháng 11/2025. Ảnh: Lưu Quý
Thứ ba, nhiệm vụ được quản lý theo gói công việc và các mốc đánh giá. Mỗi gói công việc cần xác định rõ phạm vi, sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu kỹ thuật, nguồn lực, kinh phí và thời gian thực hiện. Qua từng mốc, kết quả nghiên cứu được đánh giá để quyết định cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo, điều chỉnh hoặc dừng nếu phương án không còn phù hợp.
Thứ tư, đơn vị nghiên cứu được trao quyền tự chủ, đi kèm trách nhiệm giải trình. Họ có thể chủ động hơn trong tổ chức thực hiện, điều chỉnh phương án kỹ thuật, bố trí nguồn lực và lựa chọn nhà cung cấp trong phạm vi cho phép. Đổi lại, đơn vị chủ trì phải chịu trách nhiệm về sản phẩm, chỉ tiêu kỹ thuật, tiến độ và hiệu quả sử dụng kinh phí.
Thứ năm, cơ chế mới chấp nhận rủi ro công nghệ có kiểm soát và tăng nguồn lực xã hội. Một bài toán có thể được triển khai theo nhiều phương án nghiên cứu khác nhau, sau đó đánh giá và sàng lọc qua từng mốc. Doanh nghiệp được khuyến khích đề xuất bài toán, đồng đầu tư, thử nghiệm đến tiếp nhận và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Theo ông Hùng, với các chính sách mới, Bộ Khoa học và Công nghệ kỳ vọng tạo một “đường chạy” thống nhất, một cách hiểu thống nhất để các bên cùng tham gia phát triển công nghệ chiến lược. Hành lang pháp lý này cũng là căn cứ để doanh nghiệp xác định những nhiệm vụ, bài toán công nghệ mà mình có thể triển khai.
Trọng Đạt