Rạp Hòa Bình: Ký ức giữa lòng Đà Lạt

Rạp Hòa Bình là chứng nhân của những cuộc chuyển dịch trong lịch sử thành phố Đà Lạt.

Trụ tháp hình chữ nhật đơn sơ, khung mặt tiền giật cấp hướng ra quảng trường trung tâm, nơi từng gắn biểu trưng của thành phố cùng câu ngạn ngữ Latin “DALAT: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem” (Đà Lạt: Cho người này nguồn vui, cho người kia sức sống), được xem là một trong những cao điểm cảnh quan kiến trúc và tinh thần của Đà Lạt.

Từ chợ trung tâm

Nói đến rạp phim Hòa Bình, nay gọi là rạp 3 tháng 4, trước hết phải nhắc đến ngọn nguồn về sự hình thành Quảng trường Chợ (Place du Marché) và khu trung tâm trong giai đoạn đầu kiến tạo, phát triển đô thị Đà Lạt.

Bản quy hoạch một thành phố vườn có quy mô đầu tiên định hình cho đô thị Đà Lạt được ra đời vào năm 1923, do kiến trúc sư Ernest Hébrard (Pháp) thiết kế. Điểm đáng chú ý nhất là đồ án xác định trục chính của thành phố nằm trên cung đường rẽ quạt Đông – Tây (từ các tuyến Quang Trung – Trần Quốc Toản và Hùng Vương – Trần Hưng Đạo nối vào Trần Phú, Lê Hồng Phong, mở dần sang hướng thác Cam Ly ngày nay). Có thể hình dung, ý đồ thiết lập lõi trung tâm là “khu phố Pháp”, nơi tập trung nhiều cửa hiệu, khách sạn, nhà thờ, bưu điện, dịch vụ du lịch và cơ quan hành chính là ở khu vực Hôtel du Parc, Dalat Palace, nhà thờ Nicholas Bari (còn gọi là nhà thờ Chánh tòa, nhà thờ Con Gà).

Trong khi đó, cộng đồng người Việt, Hoa, Ấn nhập cư được đẩy về phía Bắc thành phố, cách khu vực phố Pháp một cái hồ (Grand Lac, sau có tên hồ Xuân Hương), một dòng suối (Cam Ly) và một cây cầu (sau này là Cầu Ông Đạo).

Sự phân chia địa lý này cho thấy rõ tư duy rạch ròi của người Pháp, khi ngôn ngữ quy hoạch căn cứ trên khác biệt về nề nếp sinh hoạt, đặc biệt là tránh hết mức có thể những tác động dịch tễ không mong muốn từ cộng đồng gốc Á mới đến.

Đọc đồ án của Hébrard bằng con mắt nhân học ngày nay, có thể nhận ra phía sau ý tứ phân khu theo chủng tộc để khoanh vùng “cảnh quan Âu thuần chất” không bị pha tạp là một ý chí quyết liệt và lý tưởng lạ lùng, nhưng đồng thời cũng hé lộ một ranh giới ngầm của định kiến văn hóa.

Thế nhưng, dòng chảy lớn của lịch sử trên thực tế đã không theo những hoạch định chủ quan. Các bản quy hoạch, chỉnh trang Đà Lạt về sau của Louis Pineau năm 1933, hay Jacques Lagisquet năm 1943, đã có nhãn quan hòa đồng hơn. Những điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh dân số nhập cư người Việt nói riêng, người gốc Á nói chung gia tăng nhanh chóng, dẫn đến sự hình thành các ấp mới và sự trỗi dậy của “quyền lực bản xứ” trong bức tranh kinh tế lẫn chính trị thành phố.

Trong bối cảnh quy hoạch và chính sách theo cách mà người Pháp quyết định, thì một khu trung tâm phố Việt manh nha hình thành thuở ban đầu là vào năm 1929, đánh dấu rõ ràng nhất bằng sự xuất hiện của một ngôi chợ tự phát với vách ván, mái tôn đơn sơ, nằm trên đỉnh đồi ở “khu An Nam” (nay là khu Hòa Bình), có tên là Chợ Cây. Vị trí chợ này chính là ở nền rạp 3 tháng 4 ngày nay.

Đêm 28 – rạng 29/4/1931, hỏa hoạn thiêu rụi ngôi chợ.

Sáu năm sau, trên nền tro tàn của Chợ Cây, một ngôi chợ mới với quy mô lớn hơn được xây lên. Công trình này do nhà thầu Sidec thi công, đề cao tính công năng, mạch lạc và đơn giản, mang hơi hướng kiến trúc tiền tân kỳ, có trụ tháp chữ nhật làm điểm nhấn hướng ra quảng trường. Bên trong được thiết kế theo hệ khung sườn mái vòm. Mặt tiền chợ có gắn biểu trưng đắp nổi đậm tính exotic (hương xa), tạo hình một đôi nam nữ người sơn cước săn hổ và khẩu hiệu của thành phố bằng tiếng Latin: DALAT: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem (Đà Lạt: Cho người này nguồn vui, cho người kia sức sống)





Chợ Đà Lạt, khoảng thập niên 1940. Ảnh tư liệu

Chợ Đà Lạt, khoảng thập niên 1940. Ảnh tư liệu

Xung quanh chợ, các trục, tuyến đường thành hình nối liền những dãy phố sạch sẽ, định vị một khu thương mại đô thị, đời sống giao thương đa chiều. Đây cũng là điểm giao thoa văn hóa của cộng đồng nhập cư Việt, Hoa, Ấn và cả người dân tộc thiểu số bản địa.

Vậy là, chính nơi mà vào thập niên 1920 từng bị người Pháp cho là nhếch nhác, lộn xộn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm đã biến thành một trung tâm thực thụ, quy tụ một cộng đồng kinh tế, văn hóa năng động. Thập niên 1930 – 1950, trên các tuyến phố vây quanh khu chợ, nhiều nghiệp chủ người Việt, Hoa dần cho thấy sức ảnh hưởng lớn của mình trong nhiều lĩnh vực, có thể kể đến: Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Đình Khiêm, Nguyễn Thị Thương, Võ Quang Tiềm (nhạc phụ của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ) hay nhà buôn Mạch Kiến Sanh (chủ hiệu bánh mì Vĩnh Hòa).

Trong lòng ngôi chợ, dưới mái vòm thoáng đãng, các dãy quầy hàng tươm tất, hàng hóa sản vật ôn đới, nhiệt đới đa dạng. Các bà, các cô người Việt ở Đà Lạt đi chợ thường mặc áo dài truyền thống. Cung cách buôn bán ôn hòa, không xô bồ, hỗn tạp. Những cửa hiệu mặt tiền nhà phố mọc lên trên các tuyến đường vòng quanh chợ bán thực phẩm, đồ len, vải vóc cho đến máy móc, đồng hồ. Trong những ngày cuối tuần, chợ tràn ra lòng đường. Tại đây, một du khách phương xa có thể gặp lại những người K’Ho bày bán sản vật núi rừng đựng trong những chiếc gùi mây, đó là những nhành lan, bó rau quả tươi – quà tặng đến từ nương đồi, núi thẳm.

Đến rạp phim, “thánh đường văn hóa”

Trong những sự kiện chính trị của thành phố Đà Lạt, mặt đứng của tháp cao ngôi chợ đã được sử dụng để treo lên các bích chương cổ động.

Trong thời gian ngắn ngủi chín năm (khoảng 1955-1963), Đà Lạt được kiến thiết theo mục tiêu trở thành một đặc khu văn hóa và giáo dục. Các công trình trường, viện lớn mọc lên trong giai đoạn này. Tại trung tâm, Chợ Mới Đà Lạt được khởi xây vào năm 1958, đến năm 1960 thì hoàn thành.

Công trình Chợ Mới với lối kiến trúc tân kỳ, bề thế này do kiến trúc sư Nguyễn Duy Đức thiết kế, nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu thi công, biến một lũng đồi ở trung tâm chuyên trồng cresson (cải xoong) thành một ngôi chợ ba tầng nổi và một tầng hầm rộng rãi, khang trang. Từ Chợ Mới, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã thiết kế thêm một cây cầu bắc từ tầng ba của chợ sang khu Hòa Bình, kết nối với hành lang ngôi chợ cũ. Kiến trúc sư trẻ từng đoạt giải Khôi Nguyên La Mã cũng chăm chút quy hoạch lại không gian hàng quán dịch vụ cho khu vực thương mại quanh chợ, tạo ra một dấu ấn, diện mạo mới cho trung tâm Đà Lạt.

Thập niên 1960, khu Hòa Bình biến đổi theo hướng hiện đại, nhưng gắn kết hài hòa với quá khứ. Ngôi chợ cũ được giữ lại, mái mặt tiền kéo bằng phẳng, lược bỏ hệ cửa gió họa tiết chóp thông, khối trụ cũng bị lược bỏ những gờ dọc trang trí và hình giật cấp, bên trong chuyển đổi công năng thành hội trường, rạp phim có khán phòng 800 ghế. Việc tôn tạo, sửa sang là do công ty Hòa Bình của các nghiệp chủ người Hoa thầu khoán đảm nhận, nên từ đây rạp có tên là Hòa Bình.





Công trình chợ đang được công ty Hòa Bình xây dựng thành rạp chiếu phim, hội trường Hòa Bình. Ảnh tư liệu Nguyễn Thi sưu tầm và cung cấp.

Công trình chợ đang được công ty Hòa Bình xây dựng thành rạp chiếu phim, hội trường Hòa Bình. Ảnh tư liệu do Nguyễn Thi sưu tầm, cung cấp

Từ thập niên 1960, mỗi người dân Đà Lạt bước qua cánh cửa rạp phim trung tâm sẽ mang theo niềm hãnh diện được dự phần vào thiên đường văn hóa của thành phố. Cùng với những quán cà phê, phòng triển lãm, trường đại học, nhà sách, viện nghiên cứu, rạp phim là nơi mà mỗi người dân có thể tìm thấy mình trong nếp sống thanh tao, lịch lãm và trí thức của một đô thị lấy cốt cách châu Âu làm hình mẫu.

“Rạp chiếu bóng tối tân nhất”

Cuộc biến đổi mạnh mẽ đầu thập niên 1960, biến ngôi chợ – biểu tượng của thương mại, trở thành rạp chiếu phim – biểu tượng của văn hóa, là một dấu mốc đặc biệt trong đời sống tinh thần của thị dân Đà Lạt.

Nguồn phim được chiếu ở rạp Hòa Bình, Ngọc Hiệp hay Ngọc Lan tại Đà Lạt trong thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 cập nhật gần như cùng lúc với lịch chiếu của các rạp ở Sài Gòn. Các tờ bướm quảng bá phim được thiết kế chuyên nghiệp. Trên một tờ bướm giới thiệu bộ phim King-kong tử chiến Khủng Long (tên gốc: King Kong vs. Godzilla) của đạo diễn Ishirō Honda phát hành năm 1962, nhà phát hành phim lúc ấy đã giới thiệu Cinema Hòa Bình là “Rạp chiếu bóng tối tân nhứt Đà Lạt”.





Một tờ giới thiệu phim của Cinema Hòa Bình vào khoảng thập niên 1960. Ảnh: Tư liệu.

Một tờ giới thiệu phim của Cinema Hòa Bình vào khoảng thập niên 1960. Ảnh tư liệu

Trong ký ức của ông Phạm Gia Cẩn (con trai út của ông Phạm Gia Triếp – Trưởng Ty Thông tin Đà Lạt từ khoảng 1956-1973), thuở thiếu thời, ông và các bạn chung xóm Lò Gạch vẫn thường rủ nhau đến rạp Hòa Bình xem các bộ phim thiếu nhi, phim hoạt hình yêu thích. Cha ông, vì có chức vụ quản lý văn hóa thành phố, nên thường viết thư tay bảo lãnh cho cả nhóm trẻ con chòm xóm được vào rạp xem phim miễn vé. Ông Trưởng ty Thông tin cũng thường đến rạp, ngồi cạnh những khán giả bình dân, những cô cậu đang ở tuổi hẹn hò chìm đắm vào một thế giới huyễn hoặc diệu kỳ dệt nên bởi nghệ thuật thứ bảy.

Ông Nguyễn Thi, một nhà sưu tầm kỷ vật Đà Lạt, con trai của một thợ sửa radio có cửa hiệu trên dốc Minh Mạng trước 1975, kể rằng những năm tháng tuổi thơ của ông gắn liền với rạp phim Hòa Bình: “Đây là rạp chiếu phim mà tôi được đi xem phim một mình lần đầu. Rạp cho phép người lớn đi xem kèm với trẻ em, nên có lúc tôi mua vé dẫn em út mình đi chung cho vui”. Với ông Thi, lứa trẻ con Đà Lạt thời của ông được đến rạp xem phim thường xuyên cũng giúp hình thành một nhu cầu, thói quen hưởng thụ văn hóa, coi trọng đời sống tinh thần về sau.

Thập niên 1960, một du khách có thể cảm nhận được đời sống tinh thần của Đà Lạt qua cao điểm của ba ngọn tháp: Tháp trường Lycée Yersin biểu tượng giáo dục, tháp nhà thờ Chánh tòa là biểu tượng tôn giáo và tháp rạp Hòa Bình là biểu tượng văn hóa.

Những năm 1960-1970, rạp Hòa Bình nhiều khi được sử dụng cho các cuộc hội họp, nên có lúc được gắn lên cái tên: “Hội trường Hòa Bình”. Nhưng các sự kiện biến động nhất thời chắc chắn không chiếm nhiều không gian trong thế giới hoài niệm của thị dân bằng những trải nghiệm, nếp sống và thụ hưởng văn hóa của người Đà Lạt. Hình bóng rạp phim này hoàn toàn có thể tồn tại trong nội hàm rộng nhất của khái niệm di sản: Di sản thuộc về cộng đồng.

Nguyễn Vĩnh Nguyên




Nguồn bài viết

Chia sẻ bài báo