
Ông Lưu Trọng An Hà, Tổng giám đốc Lotus Investment Group (FGC), chia sẻ với Báo Tuổi Trẻ bên lề AEF 2026 – Ảnh: THANH HIỆP
Một trong những vấn đề được nhấn mạnh tại các phiên thảo luận của Diễn đàn Kinh tế mùa thu 2026 (AEF 2026) là làm sao để TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung trở thành nơi hội tụ của dòng vốn FDI công nghệ và dòng chảy tài chính toàn cầu.
Khi những lợi thế quen thuộc như đất đai, lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế dần cạn dư địa, đâu sẽ là động lực để TP.HCM hút dòng vốn chất lượng cao?
Báo Tuổi Trẻ trao đổi riêng với một số chuyên gia kinh tế, nhà đầu tư và người trực tiếp dẫn dắt dòng vốn nước ngoài về Việt Nam tham dự diễn đàn để làm rõ vấn đề này.
Theo họ, sự thay đổi phải đến từ cả hai phía: chính quyền và chính các doanh nghiệp.
Chính sách ổn định, cùng nhau phát triển
Ông Lưu Trọng An Hà, Tổng giám đốc Lotus Investment Group (FGC) – Video: BẢO DUY
Ông Lưu Trọng An Hà, Tổng giám đốc Lotus Investment Group (FGC), cho biết vài tháng qua, dòng nhà đầu tư vào Việt Nam đã tăng mạnh nhờ hiệu ứng FTSE nâng hạng thị trường.
Theo ông Hà, việc nâng hạng không bảo đảm sẽ có đầu tư trực tiếp. Dù vậy, đây vẫn là tín hiệu rõ cho thấy Việt Nam đang nỗ lực minh bạch hơn, dễ đo lường hơn. Để kéo được vốn trực tiếp, cần thêm những sự kiện đi sâu vào từng dự án cụ thể.
Ông cho rằng bên cạnh cam kết của Chính phủ, điều nhà đầu tư nước ngoài cần hơn cả là chính sách ổn định.
“Chính sách có thể chặt, nhưng điều quan trọng là chúng không thay đổi sau vài năm. Mỗi khoản đầu tư đều cần những cột mốc được tính toán, dự báo trước và các cột mốc này thường bị đảo lộn nếu chính sách thay đổi”, ông phân tích.
Đồng quan điểm, ông Trần Hải Linh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân & Đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc (VKBIA), cho rằng điều quan trọng nhất với TP.HCM gói gọn trong hai từ: thể chế và minh bạch.
“Doanh nghiệp phải dự đoán được chi phí như thế nào. Bao nhiêu họ không ngại, nhưng quan trọng nhất là sự minh bạch”, ông khẳng định.
Theo ông Linh, các đối tác nước ngoài đã thay đổi cách nhìn về Việt Nam.
Ông cho biết: “Điều các doanh nghiệp Hàn Quốc coi trọng nhất khi hợp tác về công nghệ cao không còn ở chỗ Việt Nam là nơi sản xuất giá rẻ, dựa vào chi phí thấp hay để hưởng ưu đãi thuế. Giờ đây, họ quan tâm Việt Nam sẽ cùng Hàn Quốc tham gia như thế nào vào chuỗi cung ứng toàn cầu, làm thế nào để cùng phát triển”.
Nhà đầu tư mong muốn sự bảo đảm
Ông Hà chia sẻ đã đưa 5 ngân hàng đến AEF lần này để tìm hiểu cơ hội đầu tư. Qua những trao đổi với khách hàng, ông nhận thấy điều quan trọng nhất với họ là sự bảo đảm.
“Họ muốn thấy Chính phủ Việt Nam có lộ trình tăng trưởng rõ ràng, gồm những bước nào. Họ cũng cần biết nhà đầu tư của mình được bảo đảm tài chính ra sao, vì chính họ là bên cấp vốn cho khách hàng vào Việt Nam”, Tổng giám đốc FGC cho biết.
Ông cũng lưu ý Việt Nam lâu nay chủ yếu thế chấp bằng bất động sản. Trong khi đó đây được xem là tài sản “nặng”, có thể trở thành rào cản khiến ngân hàng khó giảm lãi suất và tăng đầu tư.

Ông Trần Hải Linh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân & Đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc (VKBIA) – Ảnh: THANH HIỆP
Trong khi đó theo ông Linh, sau khi hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2025, TP.HCM đã thành một siêu đô thị.
Nhà đầu tư quốc tế hiện rất quan tâm cơ chế đặc biệt cho trung tâm tài chính quốc tế sẽ vận hành ra sao. Họ cũng muốn biết cơ chế này có gắn được với các cực tăng trưởng như bán dẫn, thiết kế vi mạch, kiểm thử hay không.
Ngoài ra hạ tầng logistics cũng là khía cạnh quan trọng được các nhà đầu tư quan tâm, nhất là trong lĩnh vực công nghệ.
“Bất cứ tập đoàn, doanh nghiệp nào khi đầu tư vào các cực tăng trưởng, nhất là liên quan đến công nghệ, đều cần hệ thống logistics, gồm cảng biển, sân bay và các hệ thống hỗ trợ. Những yếu tố này quyết định việc các doanh nghiệp công nghệ có tiếp tục đặt tại TP.HCM hay không”, ông Linh nhấn mạnh.
Xây dựng hệ sinh thái xoay quanh dòng vốn FDI
Ông Nguyễn Việt Hoàng, đồng sáng lập Mạng lưới các nhà lãnh đạo trẻ Vietnam Vanguard – Video: BẢO DUY
Ông Nguyễn Việt Hoàng, đồng sáng lập Mạng lưới các nhà lãnh đạo trẻ Vietnam Vanguard, cho rằng để thu hút được dòng vốn FDI chất lượng cao, Việt Nam phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
Cùng với đó là bảo đảm hạ tầng điện, nước, đất đai và nhân lực để bổ trợ cho môi trường kinh doanh thông thoáng.
Theo ông Hoàng, Việt Nam không chỉ cần thêm vốn FDI, mà quan trọng hơn là cần xây dựng cả một hệ sinh thái xoay quanh dòng vốn này.
Nhà nước và các doanh nghiệp đầu tàu, cả FDI lẫn doanh nghiệp lớn trong nước, cần kết nối và dẫn dắt để hình thành mạng lưới nhà cung ứng nội địa đủ sức tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ông đề xuất một số chính sách phát triển công nghiệp thế hệ mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) – vốn chiếm đến 98% số doanh nghiệp Việt Nam, nhưng lại đang gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục hành chính, tiếp cận vốn & công nghệ.
“Trước hết, họ phải tự nâng cấp quy chuẩn, quy trình sản xuất công nghiệp và công nghệ để bắt kịp thế giới. Tuy nhiên để đầu tư đúng đắn vào máy móc, công nghệ, con người, họ cũng cần rất nhiều hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước cũng như các định chế tài chính”, ông Hoàng nói.