Vay ngân hàng 7,5 tỷ đồng, vợ chồng ở Hải Phòng chỉ trả được hơn 2 triệu tiền gốc

Vay 7,5 tỷ đồng, nợ gốc gần như còn nguyên

Ngày 25/12/2023, Ngân hàng M. và vợ chồng bà Hoàng Thị H., ông Khổng Văn Đ. ký hợp đồng cho vay với hạn mức 6,5 tỷ đồng. Đến ngày 13/6/2024, hai bên tiếp tục ký hợp đồng cho vay mới với hạn mức 7,5 tỷ đồng.

Mục đích vay được xác định là tái cấp hạn mức tín dụng để kinh doanh gạch men, gạch ốp lát các loại.

Theo các văn bản nhận nợ, tổng số tiền ngân hàng giải ngân theo 5 khoản vay là 7,5 tỷ đồng, trong đó bao gồm dư nợ được chuyển tiếp từ hợp đồng trước. Các khoản vay đều có thời hạn khoảng 9 tháng, lãi suất được thỏa thuận khác nhau tùy từng lần nhận nợ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả bằng 10%/năm.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, bà H. và ông Đ. thế chấp quyền sử dụng thửa đất diện tích 312m2, gồm 271m2 đất ở tại đô thị và 41m2 đất nuôi trồng thủy sản, cùng tài sản gắn liền với đất.

W-vay kinh doanh gach.jpg
Vay 7,5 tỷ kinh doanh gạch, hơn 2 năm sau vợ chồng ở Hải Phòng nợ hơn 8,8 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, các khoản vay bị chuyển quá hạn. Tính đến ngày 8/10/2025, vợ chồng bà H. đã thanh toán hơn 84,3 triệu đồng, nhưng tiền gốc mới được trả hơn 2,2 triệu đồng.

Ngân hàng yêu cầu vợ chồng bà H., ông Đ. thanh toán số tiền hơn 8,8 tỷ đồng tính đến ngày 8/5/2026, gồm gần 7,5 tỷ đồng nợ gốc, hơn 308 triệu đồng lãi trong hạn, hơn 1 tỷ đồng lãi quá hạn và hơn 42 triệu đồng tiền phạt chậm trả lãi.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H. và ông Đ. thừa nhận đã ký các hợp đồng, nhận đủ tiền vay và đồng ý với yêu cầu của ngân hàng, đồng thời đề nghị được trả nợ theo quý và xem xét giảm tiền lãi.

TAND khu vực 13 – Hải Phòng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ngân hàng, buộc vợ chồng bà H., ông Đ. thanh toán hơn 8,8 tỷ đồng.

Kháng cáo xin giảm lãi, tài sản thế chấp vẫn có thể bị xử lý

Sau bản án sơ thẩm, ông Đ. kháng cáo, đề nghị xem xét lại lãi trong hạn, lãi quá hạn và tiền phạt chậm trả lãi. Ông cho rằng việc tính lãi chưa bảo đảm khách quan, đồng thời đề nghị xem xét thời điểm chuyển khoản vay sang nợ quá hạn.

Tại phiên phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Đ. xác nhận các hợp đồng vay, số tiền giải ngân, số tiền đã thanh toán và công nợ mà ngân hàng đối chiếu là đúng. Người này chỉ đề nghị xem xét thời điểm chuyển nợ quá hạn, giảm một phần lãi quá hạn và cho phép trả nợ thành nhiều đợt.

Hội đồng xét xử xác định ngân hàng đã nhiều lần làm việc, gửi văn bản đôn đốc và thông báo cho vợ chồng bà H., ông Đ. về việc phát sinh nợ quá hạn. Ông Đ. cũng đã ký các biên bản làm việc, thừa nhận khoản vay quá hạn và đề nghị được gia hạn thời gian thanh toán nhưng ngân hàng không chấp nhận.

Do đó, tòa xác định việc ngân hàng chuyển các khoản vay thành nợ quá hạn là đúng quy định. Thời điểm chuyển nợ quá hạn được tính từ ngày hết thời hạn trả nợ theo 5 văn bản nhận nợ. Mức lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn theo thỏa thuận cũng được xác định là phù hợp.

Đối với đề nghị giảm lãi quá hạn, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận. Theo bản án, lãi trong hạn và lãi quá hạn được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên và phù hợp pháp luật. Việc bị đơn gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh không phải căn cứ để miễn, giảm khoản lãi này.

Tuy nhiên, tại phiên phúc thẩm, ngân hàng tự nguyện không yêu cầu vợ chồng bà H., ông Đ. thanh toán tiền phạt chậm trả lãi. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị này và sửa một phần bản án sơ thẩm về nghĩa vụ thanh toán tiền phạt chậm trả lãi.

Tòa phúc thẩm buộc vợ chồng bà H. và ông Đ. phải liên đới thanh toán cho ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 8/5/2026 là hơn 8,8 tỷ đồng, gồm gần 7,5 tỷ đồng nợ gốc, hơn 308 triệu đồng lãi trong hạn và hơn 1 tỷ đồng lãi quá hạn. Hai người không phải chịu khoản tiền phạt chậm trả lãi.

Từ ngày 9/5/2026 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc, vợ chồng bà H., ông Đ. tiếp tục phải trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng.

Nếu vợ chồng bà H., ông Đ. không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất diện tích 312m2 theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán toàn bộ nghĩa vụ, bà H. và ông Đ. vẫn phải tiếp tục trả phần còn thiếu cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

(Bài viết dựa trên Bản án số 28/2026 của TAND TP Hải Phòng)


Nguồn bài viết

Chia sẻ bài báo